
Đánh giá kết quả tạo hình tức thì trên các bệnh nhân với tổn thương phức hợp vùng miệng-hàm dưới bằng vạt da xương mác sau phẫu thuật điều trị ung thư. Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu được tiến hành trên 63 bệnh nhân được chẩn đoán là ung thư vùng hàm mặt được phẫu thuật cắt bỏ phức hợp xương hàm dưới tại Khoa Phẫu thuật Tạo hình Thẩm mỹ, Bệnh viện Răng hàm mặt Trung ương Hà Nội từ tháng 5/2014 đến tháng 7/2021. Kết quả: Tuổi trung bình của bệnh nhân là 54.05 ± 13.14, tỉ lệ nam/nữ = 2/1. Các vạt xương mác có đảo da với chiều rộng trung bình là 5.79 ± 0.60 cm và chiều dài trung bình là 14.46 ± 1.33, trong đó 62/63 đảo da của vạt được sử dụng để che phủ khuyết hổng niêm mạc miệng, và 1 trường hợp được sử dụng để che phủ khuyết da. Số đoạn xương mác được sử dụng để tạo hình theo đoạn xương hàm dưới khuyết hổng trung bình là 2.44 ± 0.79 đoạn. Kết quả có 2/63 trường hợp hoại tử hoàn toàn vạt da xương mác và không có trường hợp nào hoại tử một phần vạt. Tổng cộng có 40 biến chứng trên 29 bệnh nhân khác nhau. Thời gian theo dõi sau mổ trung bình là 40.24 ± 21.25 tháng, có 50 bệnh nhân còn sống và 13 bệnh nhân đã tử vong (thời gian sống trung bình là 23.92 ± 19.45 tháng). Kết quả phục hồi chức năng ăn nhai, nói, và há miệng tương đối tốt, với tỉ lệ bệnh nhân đạt mức độ bình thường hoặc chỉ rối loạn nhẹ tương ứng là 84.5%, 82.8%, và 98.3%. Có 41.4% đạt kết quả thẩm mỹ rất tốt, 50.0% đạt kết quả tốt, và còn lại là 8.6% đạt kết quả trung bình. Kết luận: Phẫu thuật tạo hình tức thì khuyết hổng phức hợp vùng miệng-hàm dưới bằng vạt da xương mác sau phẫu thuật điều trị ung thư cho các kết quả về chức năng và thẩm mỹ rất khả quan, nên được thực hiện một cách thường quy để đảm bảo chất lượng cuộc sống tối đa cho bệnh nhân.
This paper aims to describe results of primary complex oromandibular reconstruction with osteocutaneous flap after cancer resection. Methods: The study was conducted in 63 patients were diagnosed with maxillofacial cancer and had oromandibular resected in Department of Plastic and Aesthetic Surgery, Hanoi National Hospital of Odonto – Stomatology from May 2014 to July 2021. Results: The mean age was 54.05 ± 13.14 years, male/female ratio was 2/1. Skin islands of fibular flaps had mean width of 5.79 ± 0.60 cm and mean length of 14.46 ± 1.33 cm, with 62 of total 63 skin islands were used for mucosal reconstruction, and 1 case was used for skin defect. The mean number of fibular bone’s fragments used for mandibular reconstruction was 2.44 ± 0.79. There were 2/63 cases with total flap failure and no case with partial flap failure. Complications occurred in 29 patients, with total 40 complications. The average follow-up was 40.24 ± 21.25 months, there are 50 patients still alive and 13 patients are dead (the mean survival time was 23.92 ± 19.45 months). Functional outcomes normal or slightly altered function was obtained for oral diet, speech intelligibility, and mouth opening in 84.5%, 82.8%, and 98.3% of patients, respectively. 41.4% of aesthetic results were very satisfied, 50.0% satisfied, and 8.6% poorly satisfied. Conclusion: Immediate composite oromandibular reconstruction with osteocutaneous flap after cancer resection has very favorable functional and aesthetic results, and should be performed as a routine basis to maximize patients’ quality of life.
- Đăng nhập để gửi ý kiến